English (United States)   Tiếng Việt (Việt Nam)
Chuyển bộ gõ
Hệ thống hỗ trợ ra quyết định điều chuyển luồng tiền cho Tổng công ty Bưu chính
Cập nhật ngày: 26/03/10

Những năm trước đây, Việc điều chuyển luồng tiền giữa các đơn vị (Bưu cục, bưu điện huyện, bưu điện tỉnh/thành phố) trong Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (BCVN) gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do thiếu thông tin về tình hình quỹ của các đơn vị từ đó thiếu cơ sở để đưa ra quyết định điều chuyển luồng tiền. Việc này dẫn đến nguồn vốn đổ vào kinh doanh dịch vụ Bưu chính lớn và không thực sự hiệu quả. Để giải quyết được vấn đề này, năm 2008, BCVN phối hợp với Trung tâm Công nghệ Thông tin (CDiT) thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông nghiên cứu và phát triển hệ thống phần mềm hỗ trợ thông tin cho công tác điều chuyển luồng tiền (CFM). Đến nay, phần mềm đã được triển khai trên phạm vi 63 bưu điện tỉnh/thành phố, kết quả bước đầu đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản trong quản lý, điều hành luồng tiền của BCVN.

   KS. Ngô Quang Lựa
 
Những năm trước đây, Việc điều chuyển luồng tiền giữa các đơn vị (Bưu cục, bưu điện huyện, bưu điện tỉnh/thành phố) trong Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (BCVN) gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do thiếu thông tin về tình hình quỹ của các đơn vị từ đó thiếu cơ sở để đưa ra quyết định điều chuyển luồng tiền. Việc này dẫn đến nguồn vốn đổ vào kinh doanh dịch vụ Bưu chính lớn và không thực sự hiệu quả. Để giải quyết được vấn đề này, năm 2008, BCVN phối hợp với Trung tâm Công nghệ Thông tin (CDiT) thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông nghiên cứu và phát triển hệ thống phần mềm hỗ trợ thông tin cho công tác điều chuyển luồng tiền (CFM). Đến nay, phần mềm đã được triển khai trên phạm vi 63 bưu điện tỉnh/thành phố, kết quả bước đầu đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản trong quản lý, điều hành luồng tiền của BCVN.
 
 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC ĐIỀU CHUYỂN LUỒNG TIỀN CỦA BCVN
 Việc điều chuyển luồng tiền giữa các đơn vị trực thuộc BCVN trước đây được thực hiện dựa trên các báo cáo dịch vụ được lập từ các đơn vị cấp dưới, cụ thể là:
-   Bưu cục lập báo cáo gửi bưu điện huyện hoặc tỉnh/thành phố,
-   Bưu điện huyện căn cứ vào các báo cáo của bưu cục gửi lên, tổng hợp gửi bưu điện tỉnh/thành phố,
-   Bưu điện tỉnh/thành phố tổng hợp của toàn tỉnh gửi lên Tổng công ty.
Với quy trình thực hiện báo cáo giấy như trên, cấp Tổng công ty luôn nhận được các dữ liệu chậm tối thiểu là 2 ngày, ví dụ báo cáo ngày 1/1/2009 thì ngày 3/1/2009 mới nhận được, chưa kể đến các trường hợp ngoại lệ như: việc vận chuyển báo cáo từ các bưu cục lần lượt qua các bưu cục cấp trên được thực hiện bằng đường thư vì vậy việc chậm chễ là không thể tránh khỏi. Do đó, khi nhận được báo cáo từ các đơn vị cấp dưới gửi lên, nguồn dữ liệu này đã bị “lạc hậu” không thể dùng để làm cơ sở điều chuyển luồng tiền. Vì vậy, việc điều chuyển tiền thường được thực hiện dựa vào cảm tính.
 
Đây là tình trạng này của nhiều năm trước đây và gây ra không ít khó khăn cho hoạt động kinh doanh của BCVN. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết khi BCVN thực hiện hạch toán độc lập từ năm 2008. Đứng trước khó khăn này, trong năm 2009, hệ thống phần mềm hỗ trợ công tác báo cáo nhanh cho các đơn vị trong Tổng công ty (Cash Follow Money - CFM) xây dựng đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
-   Thông tin báo cáo của các đơn vị cấp dưới phải đảm bảo cập nhật(trong ngày) để phục vụ cho công tác điều chuyển luồng tiền.
-   Tiêu chí báo cáo phải  “động” - cho phép dễ dàng thay đổi, thêm bớt các tiêu chí, các dịch vụ khi có nhu cầu.
-   Hệ thống vận hành tốt trên diện rộng (toàn quốc).
 
GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ
Mô hình hệ thống
Qua phân tích yêu cầu nhận thấy, nghiệp vụ cho bài toán này không phức tạp, chỉ yêu cầu hỗ trợ việc nhập và kết sinh báo cáo theo yêu cầu. Tuy nhiên, bài toán cũng đặt ra các vấn đề khá khó khăn về mặt kỹ thuật như:
-   Phạm vi triển khai hệ thống rộng trên toàn bộ 64 bưu điện tỉnh/thành phố và đầy đủ các cấp bao gồm: bưu cục, bưu điện huyện, bưu điện tỉnh/thành phố và Tổng công ty.
-   Yêu cầu thông tin phải nhanh: do tính chất của bài toán, nếu thông tin chậm thì không có ý nghĩa.
- Để đáp ứng được các yêu cầu trên, mô hình kỹ thuật hệ thống theo cấu trúc Client – Server đã được đề xuất.
 
Hình 1. Mô hình thiết kế tổng thể hệ thống CFM
 
Phía Server:
Được triển khai tại Trung tâm dữ liệu thuộc Tổng công ty, tại đây sẽ lưu trữ toàn bộ dữ liệu – CFM Database và hệ thống Service để tiếp nhận và xử lý các yêu cầu từ phía Client triệu gọi.
 
Hệ thống CFM Database: được phát triển trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2005, hệ thống thiết kế theo hướng mở dễ dàng mở rộng dịch vụ đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt của hệ thống.
 
Hệ thống Service: được phát triển để tiếp nhận lời triệu gọi hàm từ phía client theo công nghệ .NetRemoting, đây là công nghệ đã được nghiên cứu và chứng minh là phù hợp với lớp bài toán của BCVN. Các thành phần thiết kế chi tiếp bao gồm:
 
Hệ điều hành: hệ thống được phát triển và triển khai trên nền tảng hệ điều hành của Microsoft. Hệ hoạt động tốt nhất trên hệ điều hành: Window2003 Server, Window XP hoặc Window Vista, Window 7 …
Hệ thống được phát triển trên nền tảng công nghệ .Net FrameWork 2.0.
 
Tầng Data Access: tầng giao tiếp với hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Tầng CFM Business: khác với hầu hết các bài toán ứng dụng khác, hệ thống CFM được thiết kế với tầng Business nghiệp vụ tập trung trên Tổng công ty, với cách thiết kế này sẽ thuận lợi cho công tác triển khai trên diện rộng và bảo trì hệ thống sau khi triển khai.
Tầng CFM Interfaces: cung cấp các giao diện hàm gọi cho phép hệ thống thin client giao tiếp với toàn bộ hệ thống Service.
 
Reports Server: Hệ thống sử dụng công nghệ báo cáo tập trung trên nền tảng ứng dụng dịch vụ Report Server của Microsoft.
 
 
Hình 2. Thiết kế chi tiết thành phần Service tại Tổng công ty
 
Phía Client (thin client):
Đây là thành phần giao diện với người dùng đầu cuối triển khai tại các đơn vị như Bưu cục 3, bưu điện huyện, bưu điện tỉnh/thành phố và cả cấp Tổng công ty. Thành phần này được thiết kế đơn giản, gọn nhẹ giúp cho việc triển khai hệ thống tại các đơn vị rất đơn giản, thuận tiện cho công tác bảo trì hệ thống. Các thành phần chính hệ thống bao gồm:
 
Hệ điều hành: hệ thống được phát triển và triển khai trên nền tảng hệ điều hành của Microsoft. Hệ hoạt động tốt nhất trên hệ điều hành: Window2003 Server, Window XP hoặc Window Vista, …
Giao diện người dùng: cung cấp giao diện với người dùng trên nền tảng Winform thuận tiện cho công tác nhập liệu của các đơn vị.
 

Hình 3. Mô hình thiết kế hệ thống Thin Client
 
Giao tiếp với hệ thống khác:
Hệ thống CFM hỗ trợ kết nối đến các hệ thống hiện hành như: hệ thống chuyển tiền – CT2003, hệ thống Epost,… để thực hiện kết xuất dữ liệu phát hành, trả của các dịch vụ. Đây là nguồn dữ liệu cho phép tính toán lượng tiền tồn dư tại từng đơn vị và lượng tiền cần chi trả dựa trên số lượng phiếu đến chưa trả tại đây.
Để thực hiện kết nối đến các hệ thống, cấu trúc hàm chuẩn yêu cầu các phần mềm thành phần đáp ứng đã được xây dựng. Các hàm này sẽ được xây dựng trên nền tảng công nghệ webservice, cấu trúc hàm cụ thể như sau:
 
Dataset getdataCFM (string sLoaiDichVu, string sLoaiChiTieu)
Trong đó Dữ liệu phần mềm CFM truyền vào:
sLoaiDichVu: đây là loại dịch vụ cần truy xuất thông tin ví dụ như: CT: dịch vụ chuyển tiền; EP: Epost, …
sLoaiChiTieu: đây là loại chỉ tiêu cần truy xuất ví dụ: PHCTN: phát hành Chuyển tiền nhanh; PHTCT: phát hành Thư chuyển tiền,…
Dữ liệu ra:
Hàm sẽ trả về dataset chứa kết quả cho phần mềm CFM.
 
Hình 4. Mô hình thiết kế giao tiếp với các hệ thống khác
 
Thiết kế cơ sở dữ liệu
Để đáp ứng yêu cầu phải “động” phù hợp với điều kiện mở rộng, phát triển các dịch vụ sau này của BCVN, CDiT đã nghiên cứu và thiết kế hệ thống CFM đáp ứng được yêu cầu đó bằng cách: tổ chức lưu trữ các dịch vụ, các chỉ tiêu trong từng dịch vụ… thành các bảng danh mục, hệ thống CFM cho phép khai báo mới hoặc điều chỉnh các danh mục linh hoạt. Do đó khi phát sinh dịch vụ mới hay một tiêu chí mới chỉ cần khai báo không cần phải điều chỉnh hệ thống phần mềm.
Ngoài ra, hệ thống còn cho phép định nghĩa các công thức để tính toán các tiêu chí trên báo cáo cho phép linh hoạt thay đổi cách tính toán khi cần.
 
Ưu điểm của hệ thống:
Tính kịp thời: Với ứng dụng công nghệ thông tin cùng với mô hình thiết kế tập trung, do đó các báo cáo của các bưu cục, bưu điện huyện và tỉnh/thành phố được gửi về Tổng công ty ngay khi thực hiện kết sinh. Như vậy với việc ứng dụng phần mềm CFM đã khắc phục được nhược điểm chậm của phương thức báo cáo giấy trước đây giúp cho việc ra quyết định điều chuyển tiền kịp thời và hiệu quả.
 
Tính linh hoạt:Hệ thống được thiết kế theo hướng cho phép định nghĩa toàn bộ các dữ liệu danh mục và các công thức báo cáo do đó dễ dàng thay đổi khi có yêu cầu thêm, bớt hoặc chỉnh sửa các tiêu chí trong báo cáo.
 
Tính dễ triển khai và bảo trì: Mô hình thiết kế của hệ thống CFM như trên không những đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với hệ thống báo cáo nhanh mà còn rất thuận tiện cho công tác triển khai và bảo trì hệ thống do:
-   Toàn bộ thành phần Business nghiệp vụ được đặt tập trung tại Tổng công ty, đây là phần thường xảy ra nhiều lỗi nhất trong mô hình phát triển phần mềm. Do đó việc đặt thành phần này ở trên tập trung sẽ rất tiện lợi cho việc nâng cấp và bảo trì hệ thống trong quá trình vận hành triển khai.
-   Hệ thống dữ liệu được lưu trữ tập trung duy nhất tại Tổng công ty Bưu chính vì vậy tính tức thời của dữ liệu đã đáp ứng yêu cầu đặt ra của bài toán là cần có thông tin nhanh để hỗ trợ ra quyết định điều chuyển luồng tiền.
-   Phía Client chỉ còn lại hệ thống Thin Client chỉ còn chức năng trình diễn và giao diện người dùng vì vậy thành phần này ít xảy ra lỗi.
 
Tóm lại với mô hình thiết kế hệ thống như trên, nhóm phát triển ứng dụng đã “gom” tất cả các thành phần có thể xảy ra rủi ro và lỗi nhất về phía Server tập trung, do đó công tác xử lý và nâng cấp hệ thống rất dễ dàng. Ngoài ra với thành phần client gọn nhẹ nên công tác triển khai và vận hành hệ thống tại các điểm bưu cục 3, bưu điện huyện, bưu điện tỉnh/thành phố trở nên đơn giản hơn.
 
Hướng phát triển tiếp theo của hệ thống:
Hệ thống phần mềm CFM đã được hoàn thiện và tiến hành công tác tập huấn triển khai trên toàn quốc vào thời điểm tháng 3/2009. Đến nay, hệ thống đã đi vào hoạt động ổn định và bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu trong công tác điều chuyển luồng tiền của BCVN. Tuy nhiên, hệ thống hiện nay mới hỗ trợ quản lý được luồng tiền của nhóm dịch vụ Tài chính Bưu chính, trong thời gian tới có thể phát triển nâng cấp hệ thống cho phép hỗ trợ thêm các nhóm dịch vụ khác.
 
KẾT LUẬN
Với việc triển khai thành công hệ thống phần mềm CFM trong đầu năm 2009, có thể nói một lần nữa BCVN đã thành công trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ khai thác các dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và tận dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư.
 
Qua nghiên cứu, triển khai hệ thống CFM đã khẳng định được mô hình thiết kế và triển khai hệ thống tập trung đối với lớp bài toán của BCVN là hoàn toàn khả thi và tỏ ra có nhiều ưu thế so với mô hình thiết kế hệ thống phân tán trước đây. Việc triển khai thành công theo mô hình này mang lại kinh nghiệm và mở ra một hướng mới cho việc phát triển và triển khai các hệ thống phần mềm sau này.
 
Tài liệu tham khảo
 Mô tả sản phần hệ thống CFM - CDIT


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Tin theo ngày Xem
FocusNews Các tin mới nhất

Bưu chính Đức ra mắt website điều hành bưu kiện mới

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 4/2012

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 3/2012

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 2/2012

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 1/2012

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 12/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 11/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 10/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 9/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 8/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 7/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 6/2011

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 5/2011

Intel giới thiệu công nghệ kết nối mới Thunderbolt

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 1/2011

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 12/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 11/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 10/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 tháng 9/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 8/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 7/2010

Giới thiệu Tạp chí Kỳ 1 Tháng 6/2010

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 tháng 5/2010

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 tháng 4/2010

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 tháng 2/2010

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 Tháng 1/2010

Giới thiệu Tạp chí CNTT&TT Kỳ 1 tháng 12/2009

Bạc Liêu: Quy hoạch phát triển báo chí in đến năm 2020

Internet vệ tinh đến vùng sâu vùng xa VN

MegaVNN: Tặng khách hàng đến 18 tháng cước sử dụng dịch vụ

Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai

Từ 1/9: VNPT giảm một loạt cước dịch vụ viễn thông

Trường “bốn nhất” đã khai trương

<a href="http://ict.aivietnam.net/news/paggingincategory/tabid/76/catid/17/language/vi-VN/Default.aspx">Các tin đọc nhiều nhất</a> Các tin đọc nhiều nhất
justhost.com
banner 1
EvaVN