- Đối với truyền dẫn Viba: Truyền dẫn viba cho phép triển khai nhanh, dung lượng nhỏ, phù hợp với các trạm phát sóng di động, chi phí triển khai và vận hành thấp. Việc triển khai truyền dẫn viba cũng gặp những khó khăn riêng như thiết bị phải được lắp đặt ở những vị trí có độ cao đủ đảm bảo tầm nhìn thẳng đến trạm đối diện; việc thiết kế tuyến khá phức tạp do chất lượng tín hiệu bị ảnh hưởng bởi thời tiết và khoảng cách truyền; dung lượng truyền dẫn hạn chế không cho phép truyền tải lưu lượng của nhiều trạm phát sóng, giới hạn về tần số. Tuy nhiên những khó khăn này là hoàn toàn có thể giải quyết được nhờ số lượng trạm phát sóng dày đặc.
Thông qua các phân tích trên đây, việc xây dựng hệ thống truyền dẫn Viba kết hợp với hệ thống cáp quang và kênh thuê riêng là phù hợp nhất trong tình hình hiện nay.
2. Phương án thực hiện.
Chia hệ thống mạng thành hai nhóm: Nhóm các thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần Thơ (tạm gọi là nhóm 1) và nhóm các tỉnh thành còn lại (tạm gọi là nhóm 2).
Đối với các tuyến truyền dẫn thuộc nhóm 1
Xuất phát từ các lý do:
- Các doanh nghiệp mới thường chỉ đặt trung tâm chuyển mạch tại các thành phố lớn.
- Thuê bao tập trung vào các khu vực này lớn, lưu lượng thoại/data của khu vực này lớn.
- Các công trình tòa nhà cao tầng ngày càng nhiều.
nên doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống truyền dẫn Viba kết hợp với truyền dẫn quang. Khi đó số lượng tuyến cáp quang sẽ giảm do hệ thống truyền dẫn quang được sử dụng như các tuyến truyền dẫn lưu lượng chính từ các HUB đến trung tâm chuyển mạch, đồng thời hệ thống viba chỉ còn là những tuyến truyền dẫn ngắn do đó dễ dàng trong việc xin cấp phép tần số hoạt động (nhất là ở dãy tần số 23GHz hiện nay đang có ít nhà khai thác sử dụng). Hệ thống truyền dẫn trong khu vực nội thị được mô phỏng như sau:
- Xây dựng các HUB truyền dẫn để tập trung lưu lượng đến. Số lượng HUB tùy thuộc vào số lượng trạm phát sóng mà doanh nghiệp triển khai trong mỗi thành phố nói trên.
- Xây dựng các vòng RING cáp quang nối từ Trung tâm chuyển mạch chính đến các HUB (hoặc từ các HUB lớn đến các HUB nhỏ, nếu quy hoạch thành nhiều cấp truyền dẫn).
- Xây dựng các tuyến truyền dẫn từ các trạm phát sóng di động đến các HUB.
Hình 1: Mô hình mạng truyền dẫn kết hợp quang và viba
Theo mô hình này (Hình 1), việc chia sẻ lưu lượng tại các node truyền dẫn sẽ giúp giảm tải cho các tuyến viba, đồng thời việc thiết kế vòng RING quang với các điểm tập trung viba cho phép thiết lập một mạng truyền dẫn viba với những đoạn truyền dẫn ngắn, điều này giúp cho việc quy hoạch tần số dễ dàng hơn, nhất là trong tình hình tài nguyên tần số bị hạn chế. Bên cạnh đó, hệ thống cáp quang cũng được tinh gọn lại nhưng vẫn đảm bảo lưu lượng được truyền dẫn đến trung tâm chuyền mạch một cách thông suốt nhờ hệ thống truyền dẫn quang dung lượng lớn, được bảo vệ bởi vòng RING cáp quang.
Đối với các tuyến truyền dẫn thuộc nhóm 2:
Do đặc điểm địa hình Việt Nam tương đối phức tạp, với hệ thống kênh rạch chằng chịt (phía Nam), có nhiều núi cao (phía Bắc và miền Trung), khoảng cách địa lý từ Bắc đến Nam dài nên việc triển khai cáp quang và viba đều trở nên rất khó khăn và tốn kém chi phí. Một giải pháp giải quyết được khó khăn trên là sử dụng kênh thuê riêng (leased-line) liên tỉnh kết hợp với truyền dẫn Viba, giải pháp được mô tả như sau:
- Thuê các tuyến truyền dẫn leased-line liên tỉnh 34M kết nối từ trung tâm chuyển mạch đến trạm trung tâm của một tỉnh. Việc thuê leased-line 34M giúp tiết giảm chi phí và giảm thiểu rủi ro. Thực ra một số nhà mạng thuê truyền dẫn liên tỉnh STM-1 là không kinh tế và thiếu tính an toàn vì: thứ nhất là giá thuê của ba luồng 34M thấp hơn giá thuê của một luồng STM-1 (trong ghép kênh SDH, ba luồng E3 sẽ ghép được một luồng STM-1) [1]; thứ hai là doanh nghiệp thuê nhiều luồng 34M của nhiều nhà cung cấp dịch vụ leased-line khác nhau thì mức độ rủi ro mất dịch vụ do mất tín hiệu truyền dẫn sẽ giảm đi rất nhiều.
- Tại mỗi tỉnh cần xây dựng các tuyến viba từ các trạm phát sóng đến trạm kết cuối luồng 34M liên tỉnh, từ đây tín hiệu từ các trạm phát sóng này sẽ được kết nối vào luồng 34M để đi về trung tâm chuyển mạch. Việc này cho phép đảm bảo dung lượng truyền dẫn cho mỗi trạm, đồng thời giúp cho việc ứng cứu, xử lý sự cố nhanh hơn nhờ chủ động trong việc giám sát.
Mô hình cho nhóm này như Hình 2:

Hình 2: Mô hình mạng truyền dẫn kết hợp kênh thuê riêng và viba
Ở đây dung lượng hệ thống phụ thuộc vào số kênh leased-line 34M liên tỉnh mà doanh nghiệp đó thuê, nếu quy mô mạng lớn, tức là số trạm trên mỗi tỉnh lớn thì doanh nghiệp có thể thuê nhiều kênh 34M với các nhà cung cấp khác nhau. Tùy theo lưu lượng của mỗi tỉnh mà doanh nghiệp có thể thuê với số luồng 34M liên tỉnh hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí.
Như vậy ngoài việc có thể đảm bảo hệ thống trạm phát sóng vẫn an toàn khi hệ thống truyền dẫn của một nhà cung cấp bị sự cố, thì việc triển khai nhanh cũng là một ưu việt của giải pháp này. Bên cạnh đó, việc vận hành hệ thống trở nên đơn giản hơn do đó làm tinh giảm bộ máy nhân sự của doanh nghiệp.
Kết luận
Giải pháp xây dựng mạng truyền dẫn trên đây đề cao tính an toàn (giảm thiểu thời gian mất liên lạc do truyền dẫn), hiệu quả kinh tế và đáp ứng yêu cầu về dung lượng, qua đó có thể dễ dàng triển khai các dịch vụ trên nền công nghệ 3G một cách tốt nhất. Giải pháp này cũng giúp giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tính bí mật kinh doanh (do chỉ thuê luồng 34M liên tỉnh), giảm chi phí đầu tư ban đầu (do không phải đầu tư hệ thống truyền dẫn liên tỉnh), việc nâng cấp hệ thống được thực hiện dễ dàng hơn nhờ doanh nghiệp tự chủ hệ thống truyền dẫn nội tỉnh, sử dụng hiệu quả kênh thuê riêng liên tỉnh.
Tài liệu tham khảo
[1]. Cấu trúc bộ ghép SDH theo khuyến nghị G.709 của ITU-T, trang 25, Tài liệu Kỹ thuật Viễn thông – Học Viện BCVT, 2007.
[2] http://www.dienluctth.com.vn/detail.aspx?nt=dichvu&sj=&mt=133&tp=.
[3] Số liệu phát triển Bưu Chính Viễn Thông - Internet 2006-2007-2008 đăng trên website: http://www.mic.gov.vn
(Bài viết do Công ty Viễn thông Quốc tế VTI tài trợ)